Cận thị xảy ra khi có sự mất cân đối và hài hòa giữa trục trước sau của mắt (quá dài) và công suất hội tụ của giác. 

1. Làm sao phát hiện sớm trẻ bị tật cận thị ?

  Con trai của em năm nay học lớp 3, 8 tuổi. Gần đây, cháu hay thích đứng gần khi xem tivi hoặc đọc sách rất gần, nếu bắt cháu đứng xa thì đôi lúc cháu nheo mắt. Đó có phải là biểu hiện của cận thị không ?- Chị Võ Ngọc Thu, Bình Dương

Tìm hiểu thêm về đau mắt đỏphẫu thuật phaco, điều trị đục thủy tinh thể và phương pháp mổ mắt cận thị.

 

TS.BS. Trần Hải Yến trả lời:

 Tật cận thị đa số bắt đầu xuất hiện ở tuổi đến trường, do vậy nó còn có tên là cận thị học đường, nhưng nó cũng có thể xuất hiện từ rất sớm. Ở các trường hợp xuất hiện sớm, do trẻ còn nhỏ nên triệu chứng nhìn mờ thường bị trẻ bỏ qua cho đến khi trẻ bước vào độ tuổi đi học. Các dấu hiệu thường gặp gợi ý trẻ đang có vấn đề về thị lực bao gồm: trẻ không nhìn rõ chữ trên bảng ở lớp; hay nheo mắt, giụi mắt, chảy nước mắt, thấy mỏi mắt, nhức đầu, bị lé khi nhìn xa; hoặc trẻ hay dí sát mặt vào sách khi đọc..

 


Đối với tật viễn thị, ta cần chú ý các dấu hiệu sau ở trẻ: đọc sách khó khăn; chớp mắt, giụi mắt thường xuyên; mắt ửng đỏ, chảy nước mắt, nhức đầu hoặc mắt bị lé khi nhìn gần. Tuy nhiên, do sức điều tiết bù trừ để thích nghi với tình trạng viễn thị của trẻ nhỏ khá mạnh nên các dấu hiệu này thường được phát hiện trễ hơn so với các dấu hiệu của tật cận thị. Từ đó dẫn đến hậu quả là tình trạng lé mắt và nhược thị về sau.

Nếu đúng như bạn miêu tả thì có thể con của bạn đang có những dấu hiện của tật cận thị. Muốn phát hiện sớm các vấn đề về khúc xạ nếu có ở bé thì bạn nên dẫn bé đi khám mắt định kỳ. Lịch kiểm tra mắt được khuyến cáo bởi Hiệp hội Nhãn khoa và Nhi khoa Hoa Kỳ bao gồm 4 mốc tuổi: thời kỳ sơ sinh, giai đoạn 6 tháng đến 1 tuổi, trước tuổi đến trường (3 tuổi đến 3 tuổi rưỡi), tuổi nhập học và bất cứ khi nào có dấu hiệu nghi ngờ về bất thường thị giác ở trẻ. Ở Việt nam do trang thiết bị, và việc chăm sóc mắt cho trẻ nhỏ còn hạn chế, nên thường khuyên cha mẹ cho các cháu đi khám từ khi 3-4 tuổi, hoặc khi bé có biểu hiện khác thường nêu trên.

Bạn cần lưu ý rằng, việc đeo kính cận có thể giúp trẻ nhìn rõ hơn nhưng không ngăn được sự tiến triển. Do đó, khi đã phát hiện trẻ có tật khúc xạ, nên đưa trẻ đi tái khám mỗi 6 tháng để điều chỉnh độ kính cho phù hợp nếu cần thiết.

Ngoài ra, phụ huynh cũng cần lưu ý thêm một số cách thức trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ như sau:

- Điều chỉnh tư thế ngồi học cho trẻ đúng cách giúp mắt có khoảng cách điều tiết hợp lý. Sử dụng bàn, ghế ngồi học phù hợp với lứa tuổi và chiều cao của trẻ.

- Bố trí phòng học của trẻ đủ ánh sáng, không sử dụng đèn chiếu sáng công suất mạnh hoặc ánh sáng đèn quá tối.

- Chữ viết trên bảng cũng như chữ in trong sách phải rõ ràng, bảng và giấy không quá bóng, gây mỏi mắt, màu nền và màu chữ cần có độ tương phản tốt.

- Kiểm soát khoảng cách đọc, viết của trẻ, hướng dẫn trẻ duy trì mức từ 30-50cm từ mắt đến mặt sách.

- Không cho trẻ đọc, viết trong thời gian dài, nên khuyến khích trẻ thư giãn sau mỗi 1 tiếng, nghỉ ngơi 5-10 phút bằng cách nhắm mắt lại hoặc thư giãn nhìn ra xa. Trẻ em có độ cận thị nặng cần được điều hòa giữa công việc sách vở và các hoạt động giải trí ngoài trời.

- Không đọc sách trong bóng tối hoặc ngồi trước máy vi tính quá nhiều vì sẽ dẫn đến mỏi mắt.

- Xem tivi ở khoảng cách ít nhất 2m, ngồi cách màn hình máy tính ít nhất 50cm, khuyến khích trẻ nghỉ ngơi sau mỗi 30-40 phút.

- Không cho trẻ học hay chơi các thiết bị điện tử quá mức dễ khiến trẻ mệt mỏi, căng thẳng dẫn đến ảnh hưởng xấu đến sự điều tiết của mắt.

- Khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời.

- Trẻ sẽ được khuyên nên đeo kính khi đọc sách hay không tùy từng trường hợp. Trong lớp, trẻ có tật khúc xạ cần được xếp ngồi gần bảng, vì một số trẻ dù đã được đeo kính đúng nhưng tình trạng nhược thị vẫn còn.

Hy vọng với những thông tin bên trên, bạn sẽ có một quyết định đúng trong việc chăm sóc mắt cho con mình.

2. Có nên điều trị cận thị bằng Ortho- K không?

Chào bác sỹ, tôi có con gái 12 tuổi, bị cận 4,5 đi ốp. Tôi được biết hiện nay có phương pháp mới Ortho –K điều trị tật cận thị cho trẻ nhỏ bằng kính áp tròng mà không cần phải mổ. Vậy xin bác sỹ vui lòng tư vấn giúp về phương pháp này. Xin cám ơn.  -  Chị Nguyễn Hà Phương, Quận 11, TP.HCM.

TS.BS Trần Hải Yến trả lời:

Ortho-K (viết tắt từ chữ Orthokeratology) là phương pháp điều trị không phẫu thuật, không xâm lấn nhằm khử độ cận tạm thời, giúp người đeo không cần phụ thuộc vào kính gọng hay kính áp tròng (contact lens) mềm đeo ban ngày. Ngoài ra, các nghiên cứu của những tác giả nước ngoài cho thấy kính còn có tác dụng giúp làm chậm tiến triển cận thị ở trẻ em.

Phương pháp Ortho-K sử dụng một loại kính áp tròng cứng thấm khí chỉ đeo vào ban đêm lúc đi ngủ để điều chỉnh hình dạng bề mặt giác mạc (cấu trúc trong suốt nằm trước tròng đen), qua đó điều chỉnh độ cận thị.

 

Mắt bình thường khi các tia sáng hội tụ ngay trên võng mạc, tạo ra hình ảnh rõ nét. Cận thị xuất hiện khi giác mạc quá cong hoặc nhãn cầu quá dài, làm cho hình ảnh của vật sẽ hội tụ phía trước võng mạc, khiến người cận thị nhìn những vật ở gần rõ, vật ở xa mờ.

Giác mạc chiếm khoảng 60% độ hội tụ của mắt, do đó những thay đổi nhỏ trên giác mạc sẽ làm cho công suất khúc xạ của nhãn cầu thay đổi theo. Chỉ cần chiều dày giác mạc mỏng bớt khoảng 5% chiều dày sợi tóc, độ cận đã giảm được 1 điốp.

Kính áp tròng mềm khi đeo lên mắt chỉ có tác dụng như một thấu kính giúp thị lực cải thiện. Khi tháo ra, tương tự như khi gỡ kính gọng ra khỏi mắt, mọi thứ sẽ mờ trở lại. Còn đối với chất liệu và thiết kế đặc biệt, Ortho-K tạo ra lực đẩy nhẹ nhàng lên lớp nước mắt nằm giữa kính và mắt để nắn chỉnh dần lớp tế bào bề mặt của giác mạc dẫn đến thay đổi tạm thời độ cong phần trung tâm giác mạc, qua đó thay đổi độ hội tụ của mắt. Khi ngừng đeo kính, độ cong giác mạc sẽ trở lại vị trí ban đầu như trước khi điều trị.

Phương pháp Ortho-K có thể áp dụng cho cả trẻ em và người lớn với các yếu tố sau:

- Có độ cận thị dưới -6 điốp không kèm hoặc kèm độ loạn từ -2 điốp trở xuống

- Trẻ em đang trong giai đoạn tăng độ

- Những người gặp khó khăn hoặc không thoải mái khi đeo kính gọng hoặc kính áp tròng thông thường vào ban ngày (bất tiện khi chơi thể thao, khô mắt, thường xuyên bị mất hoặc làm vỡ kính…)

- Những người không hội đủ tiêu chuẩn để được phẫu thuật khúc xạ hoặc không muốn phẫu thuật khúc xạ do còn lo ngại về các nguy cơ của phẫu thuật.

Phương pháp Ortho-K sẽ không thể áp dụng cho một số các trường hợp sau:

- Mắt đang bị tổn thương, viêm nhiễm mi mắt, phần trước của mắt hay có những bất thường khác trên giác mạc

- Khô mắt nặng

- Đang mắc các bệnh toàn thân có thể ảnh hưởng tới mắt như tiểu đường, cao huyết áp….

- Dị ứng với bất kì thành phần nào của thuốc ngâm hoặc dung dịch bảo quản kính.

- Mắt bị ngứa hoặc đỏ khi đeo kính

Hy vọng với những thông tin bên trên, chị sẽ có thêm lựa chọn trong việc điều trị tật cận thị cho con gái.

 3. Điều trị cận thị bằng phương pháp phẫu thuật SMILE hay Lasik?

Chào bác sỹ, em có đọc được thông tin bác sỹ tư vấn về phương pháp phẫu thuật SMILE trong bài “Có nên mổ cận thị bằng phương pháp SMILE?”. Vậy theo bác sỹ có cần thiết phải lựa chọn SMILE để điều trị cận thị trong khi phương pháp mổ Lasik đã cho kết quả tốt rồi? - Anh Minh Huy, Thủ Dầu Một, Bình Dương.

Chào bạn, câu hỏi này giống câu “Tại sao cần Iphone 5, Iphone 6 khi Iphone 3 vẫn nghe tốt!”. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt quan trọng, với máy điện thoại hoặc các loại đồ gia dụng thì vấn đề chủ yếu nằm ở các tính năng tiện ích. Còn phẫu thuật thì liên quan đến sự an toàn, đặc biệt là khi sự cố xảy ra.

Nếu không có chuyện gì bất thường, quả thực, LASIK, FemtoLASIK hay SMILE cũng chỉ đi đến đích cuối cùng là thị lực 10/10 hoặc 12/10. Nhưng nếu bạn gặp những biến cố khiến vạt giác mạc không còn được nguyên vẹn trong lúc phẫu thuật hoặc vạt bị xô lệch nhăn nhúm sau phẫu thuật làm cho mắt sưng đỏ, chảy nước mắt dàn dụa, mọi vật đang rõ bỗng nhiên mờ sụp đi, tâm trạng hốt hoảng, lo lắng, hoang mang, khi đó bạn mới thấy được giá trị của SMILE trong việc giữ an toàn cho đôi mắt và thị lực của bạn.

Mặc dù tỷ lệ xảy ra không cao, nhưng những bất cẩn nho nhỏ trong sinh hoạt, đặc biệt trong thời gian đầu sau mổ (dụi tay vào mắt, nheo mạnh, nhíu mạnh, bị con nhỏ quơ tay vào mắt...) hoặc những chấn thương vào mắt do va quẹt các vật dụng sinh hoạt và công cụ lao động vẫn là những mối nguy hiểm rình rập dù rất lâu mổ. Chúng có thể gây tổn hại thị lực của bạn khiến cuộc sống và mọi việc của bạn đảo lộn.

Tôi sẽ giải thích kỹ một chút về sự khác biệt giữa LASIK, FemtoLASIK và SMILE để bạn có thể hiểu rõ hơn về các phương pháp này.

 

Về cơ chế LASIK và FemtoLASIK có cùng một nguyên tắc là mổ hở: tạo vạt giác mạc, lật mở lớp vạt, chiếu laser excimer lên nền nhu mô để điều chỉnh lại hình dạng giác mạc.

Tuy nhiên, trước kỷ nguyên của femtosecond laser, microkeratome – công cụ tạo vạt tự động là phương tiện tốt nhất để có thể tạo vạt giác mạc. Vạt giác mạc tạo bằng dụng cụ cơ học có độ biến thiên khá rộng, khi mỏng, khi dày hơn mức cho phép. Trường hợp mỏng quá có thể dẫn đến những biến chứng khuyết vạt, trường hợp quá dày làm ảnh hưởng đến độ bền vững của giác mạc nền. Đôi khi do những trục trặc cơ học, vạt có thể quá nhỏ, hoặc chỉ cắt nửa vời... Tất cả những sự cố này khiến cuộc phẫu thuật phải đình hoãn, và chỉ có thể thực hiện lại cuộc phẫu thuật sau ít nhất 3 tháng. Tùy theo mức độ nghiêm trọng mà thị lực của bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng hay không.

Femtosecond LASIK hay gọi tắt là FemtoLASIK dùng tia femtosecond laser để cắt vạt thay vì dùng dao microkeratome. Nhờ chương trình được cài đặt sẵn, và độ chính xác đến từng micron, những biến cố trong mổ không còn xảy ra nữa, tăng thêm mức an toàn cho ca phẫu thuật. Tuy nhiên, vì vẫn tồn tại giác mạc, nên FemtoLASIK không ngăn ngừa được các nguy cơ biến chứng vạt sau mổ do viêm nhiễm, chấn thương. Điều này chỉ được giải quyết bởi nguyên lý phẫu thuật kín, không mở vạt của phương pháp SMILE.


 

Như vậy, LASIK tiềm ẩn nguy cơ sự cố vạt trong và sau mổ, FemtoLASIK loại bỏ nguy cơ sụ cố trong mổ,còn phẫu thuật SMILE mới nhất hiện nay sẽ loại bỏ được cả sự cố trong và sau mổ nhờ đặc tính không tạo vạt. Nhưng cũng như các phương pháp khác, tùy theo phản ứng lành thương khác nhau của mỗi người, ở một số trường hợp, thời gian phục hồi thị lực ngay sau phẫu thuật SMILE chậm hơn.

Tuy nhiên, nếu bạn là một người luôn gặp may thì bạn không cần phải suy nghĩ nhiều, chỉ cần LASIK thôi là đủ. Còn nếu bạn là người không muốn phó thác cuộc đời mình cho sự may rủi của số phận, thì SMILE là một lựa chọn đáng giá. 

4. Mổ smile bị cận lại thì phải làm sao ?

Chào bác sỹ, em có nghe nói mổ mắt cận thị bằng phương pháp SMILE cũng vẫn có khả năng bị tái cận, nếu em lựa chọn phương pháp SMILE để mổ và bị tái can thi thì sau đó có thể chiếu laser để chữa lại được không? - Anh Hoàng Hà, Ba Đình, Hà Nội

 

 

TS.BS. Trần Hải Yến trả lời:

Đây là một trong những câu hỏi hay gặp của bệnh nhân khi nghe tư vấn chưa thấu đáo hoặc chưa được giải thích hết trong khi tư vấn.

Tất cả bệnh nhân phẫu thuật khúc xạ bằng laser, bất kể phương pháp nào (laser bề mặt LASIK, FemtoLASIK, SMILE) đều có một tỷ lệ tái cận nhất định, tùy theo tình trạng nặng nhẹ của tật khúc xạ mà tỷ lệ này có thể dao động từ 1-2% đến 12-15%. Trong đó nguy cơ tái cận cao nhất nằm ở nhóm laser bề mặt (PRK, LASEK, EpiLASIK), sau đó đến LASIK và FemtoLASIK có cùng nguy cơ như nhau, SMILE có tỷ lệ tái cận thấp nhất.

Đối với phẫu thuật laser bề mặt, nếu mổ LASEK hoặc EpiLASIK thì khi chiếu laser bổ sung, không thể thực hiện bằng phương pháp LASEK và EpiLASIK do lớp biểu mô tái sinh có độ dính không đồng đều trên toàn bề mặt, việc bóc tách được một tấm biểu mô nguyên vẹn như lần phẫu thuật đầu tiên dù bằng tay hay thiết bị tự động trở nên khó khăn. Do vậy, để điều trị tái cận sau laser bề mặt, PRK là phương pháp được chọn lựa.

Đối với LASIK hoặc FemtoLASIK laser bổ sung được thực hiện bằng cách lật vạt giác mạc ban đầu và chiếu laser lên nền nhu mô.

Trong phẫu thuật SMILE, nếu bệnh nhân cận lại, điều trị bổ sung thường không thực hiện bằng chính SMILE, bởi đa số các trường hợp tái cận, độ thường khá thấp khoảng trên dưới 1 điốp, mảnh mô quá mỏng nên việc bóc tách trong nhu mô khó khả thi. Có hai giải pháp để điều trị bổ sung. Giải pháp thứ nhất là áp dụng laser bề mặt, LASEK, EpiLASIK hoặc PRK nếu bệnh nhân không muốn tạo một vạt giác mạc. Cách thứ hai, hệ thống máy có một chương trình FemtoLASIK chuyên dụng dành riêng cho bệnh nhân sau mổ SMILE: tạo vạt giác mạc bằng femtosecond, sau đó chiếu excimer laser.

Nguy cơ biến chứng vạt giác mạc do chấn thương gây tổn hại thị lực sẽ luôn luôn tồn tại sau mọi ca phẫu thuật LASIK hoặc FemtoLASIK, nghĩa là 100% các trường hợp sẽ đứng trước nguy cơ này sau mổ. Nếu phẫu thuật SMILE, khả năng 95% là bạn không tái cận và hoàn toàn không phải lo lắng về vấn đề này. Nếu rơi vào nhóm 5% tái cận, nhưng bạn không có nhu cầu điều trị độ nhẹ như vậy hoặc bạn chọn điều trị chiếu laser bổ sung bằng laser bề mặt, nguy cơ biến chứng vạt vẫn bằng 0%. Trường hợp bạn chọn chiếu bổ sung bằng FemtoLASIK, chỉ khi đó mới cần phải quan tâm đến việc giữ gìn, cẩn trọng để tránh chấn thương vạt. Như vậy với phẫu thuật SMILE, mặc nhiên bạn đã hạ nguy cơ biến chứng vạt do chấn thương, “gót chân Asin” của LASIK và FemtoLASIK, từ 100% xuống còn cao nhất là 5%. Đây chính là ý nghĩa của SMILE trong việc nâng mức an toàn của phẫu thuật khúc xạ lên gần như tuyệt đối.

TS.BS. Trần Hải Yến 

Chia sẻ:
Tag:

Có thể bạn quan tâm

Bình luận