Cận thị thường được chia làm hai loại, tật cận thị và bệnh cận thị có cùng một nguyên tắc quang học nhưng khác nhau về cơ chế. 

Tìm hiểu thêm về can thi, đau mắt đỏ,  phẫu thuật phaco điều trị đục thủy tinh thể, phương pháp mổ mắt cận thị.


Tật cận thị còn gọi là cận thị học đường, cận thị mắc phải, thường bắt đầu ở lứa tuổi học trò, đôi khi ở thanh niên, mức độ cận nhẹ và trung bình (6 diop trở xuống), cận tiến triển chậm, tăng độ ít, độ cận thường ổn định khi đến tuổi trưởng thành (18 - 20 tuổi), tỷ lệ biến chứng thấp.

 

​Hình ảnh quan sát thấy của người cận thị (trái) và người chính thị (phải)

Bệnh cận thị thường bẩm sinh, có yếu tố di truyền, gia đình, cận nặng và rất nặng (có trường hợp lên tới 30 diop) mức độ cận tăng nhanh, nhiều, ngay cả khi đã đến tuổi trưởng thành. Bệnh cận thị thường có nguy cơ xảy ra biến chứng cao: thoái hóa hắc võng mạc, bong dịch kính, xuất huyết hoàng điểm, xuất huyết dịch kính, rách võng mạc, bong võng mạc... Tiên lượng điều trị những biến chứng này kém, khả năng phục hồi thị lực thấp.

Bệnh nhân cận thị cần được khám định kỳ 6 tháng (trẻ em) hoặc 1 năm (người lớn) nhằm kiểm tra khúc xạ để điều chỉnh kính phù hợp và khám đáy mắt để phát hiện các biến chứng và được điều trị kịp thời.

Người cận nặng không nên chơi các môn thể thao nặng (cử tạ, võ, box…), tránh chấn thương vào mắt. Cần đi khám liền khi có các hiện tượng mờ đột ngột, nhìn mờ một phía, thấy hiện tượng ruồi bay ồ ạt, chớp sáng.

Chia sẻ:
Tag:

Có thể bạn quan tâm

Bình luận